| Hoàn chỉnh cơ chế pháp lý bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán trong giai đoạn giao dịch chứng khoán |
Page 1 of 2 Tư Vấn Luật - Hoàn chỉnh cơ chế pháp lý bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán trong giai đoạn giao dịch chứng khoán Giao dịch chứng khoán là một giai đoạn rất quan trọng trong quá trình đầu tư của nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán. Chính hoạt động giao dịch chứng khoán là nơi cụ thể hóa các khoản lợi nhuận, các hành vi mua, bán chứng khoán của NĐT chứng khoán. Tuy nhiên, theo nguyên tắc trung gian trên thị trường chứng khoán (TTCK), những NĐT chứng khoán không thể trực tiếp gặp gỡ trao đổi thông tin và mua, bán chứng khoán trực tiếp từ những người có nhu cầu bán, mua chứng khoán khác. Các NĐT chỉ có thể thực hiện hoạt động mua, bán chứng khoán thông qua chủ thể trung gian, công ty chứng khoán (CTCK). Do đó, để thực hiện hoạt động giao dịch chứng khoán, các NĐT chứng khoán phải có tài khoản mở tại một CTCK và tiến hành mọi hoạt động mua, bán, đầu tư chứng khoán thông qua tài khoản này tại các sàn giao dịch của CTCK. Với hình thức này, các NĐT đã không trực tiếp nắm giữ tiền hoặc chứng khoán của mình sở hữu mà tất cả đều ký thác vào tài khoản tại CTCK. Vì thế, về mặt nguyên tắc, rõ ràng các NĐT cần phải được pháp luật bảo vệ trong quá trình giao dịch nhằm giúp NĐT có thể quản lý chặt chẽ tài sản của mình (gồm tiền và chứng khoán trên tài khoản) cũng như đảm bảo CTCK sẽ thực hiện các lệnh khách hàng. Cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trên TTCK được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong trình NĐT mở tài khoản, sử dụng tài khoản và quản lý tài khoản chứng khoán mở tại các CTCK. Như vậy, cơ chế pháp lý bảo vệ NĐT trong giai đoạn giao dịch trên TTCK sẽ bao gồm ba nội dung: pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và CTCK; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình đặt lệnh; pháp luật bảo vệ NĐT trong quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình khách hàng quản lý tài khoản. 1. Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư trong quan hệ mở tài khoản giữa khách hàng và công ty chứng khoán Quan hệ mở tài khoản được xác lập thông qua hợp đồng mở tài khoản giữa khách hàng, NĐT và CTCK, chủ thể cung cấp dịch vụ. Hợp đồng mở tài khoản được coi là bằng chứng pháp lý quan trọng để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mở tài khoản. Với tính chất quan trọng đó, NĐT với tư cách là khách hàng có quyền cùng bàn bạc, thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng mở tài khoản với CTCK. Để bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT, trong Phụ lục số 17 ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động CTCK (Quyết định 27), Bộ Tài chính đã phác thảo những nội dung cơ bản của hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán giữa CTCK và khách hàng. Trên cơ sở những nội dung cơ bản này, các CTCK soạn thảo những hợp đồng mẫu để ký kết với khách hàng về dịch vụ mở và quản lý tài khoản chứng khoán. Việc làm trên của Bộ Tài chính là rất đáng ghi nhận, tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng, những quy định của pháp luật về việc mở tài khoản của khách hàng còn vài điểm bất cập và chưa thể hiện rõ trong vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT. Cụ thể: Một là, trong phần thứ hai về điều khoản quy định các thoả thuận cụ thể của nội dung cơ bản trong hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán giữa CTCK và khách hàng ban hành kèm theo Quyết định 27 có nội dung “tỷ lệ ký quỹ đặt mua/bán chứng khoán được áp dụng”. Đây là quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch ký quỹ, là cơ sở để CTCK cung cấp dịch vụ giao dịch ký quỹ. Tuy nhiên, với quy định chung chung trong phần phụ lục về nội dung này, các CTCK sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các NĐT lớn sử dụng để mua, bán trên thị trường, gây tác động đến giá cả thị trường và mang đến những yếu tố tiêu cực tiềm ẩn cho TTCK nếu không có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Vì vậy, với tầm quan trọng của giao dịch ký quỹ nên giao dịch này cần phải được điều chỉnh bằng một văn bản riêng. Hiện nay, Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN) đang gấp rút chỉnh sửa và đưa ra dự thảo lần 2 Thông tư hướng dẫn hoạt động giao dịch mua chứng khoán ký quỹ để xin ý kiến nhằm trình Bộ Tài chính thông qua. Theo đó, khách hàng nào muốn giao dịch ký quỹ sẽ phải mở một tài khoản giao dịch ký quỹ riêng không sử dụng tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường để giao dịch ký quỹ. Do vậy, theo chúng tôi, Nhà nước cần phải nhanh chóng loại bỏ nội dung này và nội dung thứ tư trong phần điều khoản về các thoả thuận cụ thể của nội dung cơ bản trong hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán giữa CTCK và khách hàng ban hành kèm theo Quyết định 27 có nội dung “thời hạn, cách thức xử lý tài sản trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán đúng hạn”. Bởi vì phần quy định tại phần thứ tư chỉ để nhằm phục vụ cho việc giao dịch ký quỹ khi khách hàng vay tiền mua chứng khoán và dùng phần chứng khoán mua được để đảm bảo cho khoản vay nhưng không thanh toán được tiền khi đến hạn trả. Hai là, để đảm bảo tính hợp lý của việc mở tài khoản của NĐT tại các CTCK, Điều 30 của Quy chế tổ chức và hoạt động CTCK ban hành kèm theo Quyết định 27 cũng cần phải sửa đổi theo hướng quy định rõ có hai loại tài khoản giao dịch chứng khoán: tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường và tài khoản giao dịch ký quỹ . Theo đó, quy chế về tổ chức và hoạt động của CTCK chỉ điều chỉnh đối với những vấn đề liên quan đến mở tài khoản và quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường, các giao dịch chứng khoán ký quỹ, mở tài khoản giao dịch ký quỹ thì sẽ dẫn chiếu đến văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về giao dịch ký quỹ. Điều này vừa đảm bảo tính chặt chẽ trong quy định, vừa đảm bảo sự hợp lý trong việc điều chỉnh đặc biệt đối với giao dịch ký quỹ nhằm đảm bảo tính ổn định, tích cực cho TTCK. Ba là, những nội dung cơ bản của hợp đồng mở tài khoản cần được quy định thành một điều khoản trong quy chế. Với quy định như hiện nay, những nội dung cơ bản của hợp đồng mở tài khoản chỉ mang tính khuyến nghị mà không mang tính pháp lý bắt buộc. Do vậy, các CTCK có thể thiết kế hợp đồng theo nội dung đó hoặc không cũng không có chế tài đặt ra để xử lý các CTCK nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT. Vì vậy chúng tôi kiến nghị đưa những nội dung cơ bản của hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán này thành một điều hoặc một khoản cụ thể trong quy chế điều chỉnh về hoạt động của CTCK. Kiến nghị này nhằm đạt được những yêu cầu sau: (i) việc ghi nhận những nội dung cơ bản của hợp đồng mở tài khoản thành một nội dung cụ thể trong quy chế mà không phải là phần phụ lục sẽ làm nâng cao tính pháp lý của quy định. Qua đó, pháp luật khẳng định rằng đây là quy định bắt buộc, là những điều khoản không thể thiếu được hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán của CTCK với khách hàng. Nếu hợp đồng do CTCK soạn mà thiếu một trong những nội dung cơ bản này sẽ là cơ sở để khách hàng có quyền kiện đòi CTCK bồi thường thiệt hại cũng như là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt các CTCK nhằm bảo vệ cao hơn nữa quyền và lợi ích của khách hàng; (ii) việc ghi nhận này phù hợp với kỹ thuật lập pháp. Thực tế, các văn bản pháp quy luôn dành một điều khoản để ghi nhận về những nội dung cơ bản trong một loại hợp đồng nhằm điều chỉnh về một hoạt động cung cấp dịch vụ nào đó của nhà cung cấp, làm cơ sở cho nhà cung cấp cung cấp dịch vụ cho khách hàng của mình . Do vậy, việc quy định một điều khoản về nội dung của hợp đồng mở tài khoản trong quy chế về tổ chức và hoạt động của CTCK là hoàn toàn phù hợp.
2. Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư trong quan hệ giữa khách hàng và công ty chứng khoán trong quá trình đặt lệnh Để đảm bảo quyền và lợi ích của khách hàng trong quá trình đặt lệnh giao dịch và các hoạt động liên quan đến quá trình sử dụng tài khoản giao dịch chứng khoán, Nhà nước đã ban hành những quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ này. Đó là những quy định trong Luật Chứng khoán, Quyết định 27 và các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Trước đây, việc đặt lệnh phải do chủ tài khoản ghi vào phiếu lệnh và nộp trực tiếp tại sàn giao dịch của CTCK. Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển của khoa học công nghệ, các thiết bị điện tử thông minh, pháp luật đã cho phép CTCK có thể nhận lệnh của khách hàng bằng nhiều cách thức như đặt lệnh giao dịch qua internet, qua điện thoại, qua fax… Về mặt nguyên tắc, khi khách hàng đặt lệnh mua, bán chứng khoán theo quy định của pháp luật, CTCK chỉ được nhận lệnh của khách hàng có đủ tiền và chứng khoán theo quy định của UBCKNN và phải có các biện pháp cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán của khách hàng khi lệnh giao dịch được thực hiện. Quy định này nhằm đảm bảo tránh trường hợp khách hàng mua chứng khoán nhưng không có đủ tiền (trừ trường hợp được phép giao dịch ký quỹ theo thông tư giao dịch ký quỹ mà Bộ Tài chính đang dự thảo), bán chứng khoán khi không có đủ chứng khoán gây xáo trộn lớn cho TTCK, bảo vệ quyền và lợi ích của các NĐT. Tuy vậy, trên thực tế đã có khá nhiều CTCK sẵn sàng vì lợi ích riêng nên đã bỏ qua các quy định này và bị xử lý . Nghiên cứu các quy định của pháp luật điều chỉnh về quan hệ giữa khách hàng và CTCK trong quá trình đặt lệnh, chúng tôi thấy có một số điểm hạn chế sau: Một là, vấn đề kiểm tra tài khoản của khách hàng trước khi nhập lệnh bán chứng khoán vào hệ thống khi khách hàng thực hiện việc chào mua công khai. Theo quy định điểm b Khoản 9.1 Mục II Thông tư số 194/2009/TT-BTC hướng dẫn chào mua công khai cổ phiếu của công ty đại chúng, chứng chỉ quỹ của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng dạng đóng: “Kể từ thời điểm gửi đăng ký chào mua công khai đến khi hoàn thành đợt chào mua, bên chào mua không được thực hiện các hành vi: bán hoặc cam kết bán cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ mà mình đang chào mua”. Tuy nhiên, trên thực tế đã có nhiều hành vi lợi dụng việc chào mua công khai để đẩy giá chứng khoán lên cao và “lén lút” bán chứng khoán của mình đang sở hữu nhằm trục lợi bất chính. Điển hình hai vụ việc của bà Nguyễn Thị Kim Phượng (Xem hộp 1) và ông Trần Thái Hưng (Xem hộp 2) .
Ở đây, nảy sinh một vấn đề là pháp luật chưa quy định rõ vai trò và trách nhiệm của CTCK trong quá trình thực hiện lệnh bán cho những đối tượng này. Do vậy, hành vi của các đối tượng trên đã gây thiệt hại đáng kể cho các NĐT trên TTCK. Đối chiếu các quy định của pháp luật, chưa có quy định cụ thể nào xác định rằng CTCK phải có trách nhiệm kiểm tra xem những khách hàng định bán chứng khoán có nằm trong diện chào bán công khai hay không? Ngoài ra, trong Nghị định số 36/2007/NĐ-CP ban hành ngày 08/03/207 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK cũng không có quy định xử phạt về việc không kiểm tra của CTCK đối với khách hàng chào mua công khai chứng khoán. Cho nên, vì lợi nhuận, các CTCK có thể chấp nhận dễ dàng việc nhập lệnh bán của các chủ thể chào mua công khai mà không sợ bị pháp luật xử lý.
|
Hỗ trợ tìm kiếm
Luật sư Giáp
Hotline: 0984.023.417
Luật sư Thọ
Hotline: 0978.118.005
Địa chỉ: Tòa nhà Văn phòng APT số 319 Tây Sơn, Phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, Tp.Hà Nội
Email: Ductholaw@gmail.com