Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Bản án dân sự ngày 24/01/2006

V/v tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Ngày 24 tháng 01 năm 2006 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2419/DSST, ngày 12 tháng 11 năm 2004 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/QĐ-ĐXX-ST ngày 13 tháng 01 năm 2006 giữa các đương sự:

 

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Châu.

CMND số: 020127758 cấp ngày 16/01/2002 tại công an TP.HCM

Địa chỉ: 20/C24 đuờng 3/2, P.12, Q. 10, Tp.HCM.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Bồi.

CMND số: 021098514 cấp ngày 20/7/1979 tại công an Củ Chi

Địa chỉ: ấp Tiền, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Tp.HCM.

Ngươì có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn Hai

2. Bà Phạm Thị Dánh

Cùng địa chỉ: ấp Tiền, xã Tân Thông Hội, Huyện Củ Chi, Tp.HCM.

Ông Nguyễn Văn Bồi, Ông Nguyễn Văn Hai và Bà Phạm Thị Dánh cùng ủy quyền cho ông Phạm Minh Đức, SN 1943 – CMND số 02257279. Địa chỉ: Ap Gò nổi A, xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, TP. HCM.

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 09 năm 2002, biên bản làm việc ngày 22/6/05, biên bản hòa giải ngày 29/12/2005 và tại phiên toà nguyên đơn, ông Nguyễn Hồng Châu trình bày: Ngày 31/01/2002, tôi có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn Bồi (có ông Nguyễn Văn Hai là con trai của ông Bồi ký với tư cách là người chứng kiến), hợp đồng không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Theo hợp đồng, ông Bồi sẽ bán lại cho tôi toàn bộ phần đất 4.776 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 931 do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 28/7/1993 với giá 150.000đ00/m2. Thực hiện hợp đồng tôi có đặt cọc cho ông Bồi số tiền 200.000.000 đồng nhưng sau đó ông Bồi không giao đất. Tôi đã khiếu nại đến UBND xã Tân Thông Hội, tại UBND xã hai bên hoà giải không thành . Ngày 9/9/2002 tôi khởi kiện ông Bồi đến TAND H. Củ Chi. Tại Toà án Củ Chi hai bên thỏa thuận ông Bồi sẽ trả lại cho tôi số tiền 200.000.000 đồng, giao nhận tiền khi ông Bồi được nhận tiền đền bù giải tỏa phần đất 4.776 m2. Toà án củ Chi đã có Quyết định số 22/QĐ-HGT công nhận sự thỏa thuận này. Tuy nhiên, sau đó Uy ban nhân dân huyện Củ Chi có thông báo khu đất của ông Bồi không bị quy hoạch. Ngày 22/9/2004 Uy ban Thẩm phán TAND TP. Hồ Chí Minh có quyết định số 01/UBTP-DS hủy quyết định công nhận thỏa thuận của TAND Củ Chi do có tình tiết mới là khu đất trên không bị quy hoạch giải tỏa, việc thi hành án theo quyết định số 22/HGT không thể thực hiện được.

Nay yêu cầu ông Bồi và bà Dánh trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật phải trả lại cho tôi số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng trên.

Tại các biên bản ngày 28/6/2005, 30/12/2005 và tại phiên tòa bị đơn trình bày:

Xác nhận ngày 31/01/2002, tôi có ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Châu như ông Châu đã trình bày ở trên, sau khi ký hợp đồng do một số người trong tộc họ phản đối việc mua bán nên tôi đã không tiếp tục giao đất, ông Châu khiếu nại ra UBND xã và sau đó kiện ra toà.

Tôi xác nhận có nhận 200.000.000 đồng tiền đặt cọc của ông Châu, cụ thể: lần 1: ngày 31/01/2002 là 100.000.000 đồng, lần 2: ngày 21/02/2002 là 100.000.000 đồng như ông Châu trình bày. Số tiền này đã được chi tiêu trong gia đình, chủ yếu là chi phí thuốc men cho ông Bồi và vợ ông là bà Nguyễn Thị Dánh. Tuy nhiên, hiện nay gia đình tôi rất khó khăn nên tôi không có khả năng trả lại tiền mặt cho ông Châu, tôi đề nghị:

- Bán lại một phần đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 931 do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 28/7/1993 do tôi đứng tên mà tôi đã dự định bán cho ông Châu là 1500m2 để cấn trừ vào số tiền 200.000.000 đồng trên.

Nếu ông Châu không đồng ý với phương án”Bán lại một phần đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 931 do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 28/7/1993 do tôi đứng tên mà tôi đã dự định bán cho ông Châu là 1500m2 để cấn trừ vào số tiền 200.000.000 trên”, thì đợi khi nào Nhà Nước thưc hiện chính sách đền bù giải tỏa khu đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 931 do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 28/7/1993, tôi sẽ trả lại cho ông Châu số tiền 200.000.000 đồng trên

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 931 do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 28/7/1993 do tôi đứng tên, tôi là chủ hộ gia đình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Phạm Thị Dánh do ông Phạm Minh Đức được ủy quyền trình bày tại phiên tòa: Số tiền 200.000.000 đồng nhận từ việc sang nhượng quyền sử dụng đất cho ông Châu đã được chi tiêu cho sinh hoạt trong gia đình và chi phí thuốc men cho vợ chồng bà. Đồng ý với cách trả nợ cho ông Châu như ông Bồi nêu trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn Hai do ông Phạm Minh Đức được ủy quyền trình bày tại phiên tòa: xác nhận giữa ông Châu và Ông Bồi có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có giao nhận tiền đặt cọc như nguyên đơn và bị đơn đã trình bày ở trên. Việc chi tiêu số tiền cũng đúng như ông Bồi và bà Dánh trình bày.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác nhận của các đương sự trước Tòa,

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tranh chấp giữa hai bên là tranh chấp hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh theo các quy định tại khoản 3 Điều 25, khoản 2 Điều 34 Bộ Luật tố tụng dân sự.

2. Về các yêu cầu của các đương sự:

Xét yêu cầu của ông Nguyễn Hồng Châu đòi lại số tiền 200.000.000 đồng đã đặt cọc cho gia đình ông Nguyễn Văn Bồi:

Về Hợp đồng chuyển nhượng đất ký ngày 31/01/2002 giữa ông Nguyễn Hồng Châu và ông Nguyễn Văn Bồi: Đây là giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức được qui định tại các Điều 691, 707 Bộ luật dân sự và điều 31 Luật đất đai năm 1993. Sau đó, ngày 31/10/2002 UBND huyện Củ Chi có văn bản số 156/TB-UB thông báo không cho chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu dự kiến quy hoạch cụm Công nghiệp khu tây Bắc, trong đó có lô đất hai bên chuyển nhượng. Tại Toà án nhân dân huyện Củ Chi, hai bên đã thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng, ông Nguyễn Văn Bồi hoàn trả cho ông Nguyễn Hồng Châu 200.000.000 đồng đã nhận, thời gian thực hiện là khi ông Bồi được nhận tiền đền bù giải toả khu đất nói trên. Thỏa thuận của hai bên phù hợp với quy định pháp luật. Tuy nhiên, do UBND huyện Củ Chi, có văn bản số 1144/UB ngày 11/9/03 thông báo cho phép chuyển quyền sử dụng đất nhưng không thay đổi mục đích sử dụng so với hiện trạng” tại khu vực quy hoạch nêu trên, Quyết định số 22/QĐ-HGT, không thể thi hành án. Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn Bồi và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Dánh đều thừa nhận số tiền 200.000.000 đồng nhận từ việc chuyển quyền sử dụng đất cho ông Châu đều được chi dùng trong gia đình nhưng phần lớn là chi dùng cho ông Bồi và bà Dánh. Đồng thời, ông Bồi và bà Dánh cũng xác định có trách nhiệm trả 200.000.000đồng cho ông Nguyễn Hồng Châu. Vì vậy, ông Châu yêu cầu ông Bồi và bà Dánh hoàn trả số tiền 200.000.000 đồng đã trả cho ông Bồi là hoàn toàn có căn cứ, cần được chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hồng Châu gia hạn thời hạn cho ông Nguyễn văn Bồi và bà Phạm Thị Dánh hoàn trả số tiền 200.000.000đồng trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

Về yêu cầu của ông Bồi: Đề nghị chuyển nhượng cho ông Châu phần đất trị giá tương ứng với 200.000.000 đồng hoặc chờ đến khi Nhà Nước thực hiện chính sách đền bù giải tỏa khu đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 931 do UBND huyện Củ Chi cấp ngày 28/7/1993, ông Bồi sẽ trả lại cho ông Châu số tiền 200.000.000 đồng trên: Như trên đã nhận định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 31/01/2002 giữa ông Châu và ông Bồi đã bị vô hiệu toàn bộ nên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng và cũng không thể xác định được thời gian nhà nước đền bù, giải tỏa khu đất trên, ý kiến của ông Bồi không được ông Châu chấp nhận, cũng như việc chờ đợi nhà nước đền bù gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Vì vậy, yêu cầu của ông Bồi không có cơ sở để chấp nhận.

3. Về án phí:

Ông Nguyễn Văn Bồi và bà Phạm Thị Dánh phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 7 và khoản 1 Điều 11 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ, tính trên số tiền phải thanh toán 200.000.000 đồng, tiền án phí là 9.000.000 đồng. Xét thấy ông Nguyễn Văn Bồi có khó khăn về kinh tế, được UBND xã nơi cư trú chứng nhận, Toà án miễn nộp một nửa án phí. Ông Nguyễn Văn Bồi và bà Phạm Thị Dánh phải chịu 4.500.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 25, 34, 131 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 130, 131, 133, 136, 146, 288, 299, 691, 707 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 31 Luật đất đai;

Căn cứ điều 431 Bộ Luật Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 19 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ;

Căn cứ điểm 1, mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TAND TC – VKSND TC – Bộ Tư pháp – Bộ Tài Chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản;

1. Tuyên bố giao dịch dân sự bị vô hiệu toàn bộ

Tuyên bố giao dịch dân sự sang nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Hồng Châu và ông Nguyễn Văn Bồi ngày 31/01/2002 là vô hiệu toàn bộ.

2. Hoàn trả tiền

Buộc ông Nguyễn Văn Bồi và bà Phạm Thị Dánh phải hoàn trả cho ông Nguyễn Hồng Châu 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hồng Châu gia hạn thời hạn cho ông Nguyễn văn Bồi và bà Phạm Thị Dánh hoàn trả số tiền 200.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

3. Trách nhiệm thi hành án:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn Hồng Châu (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Nguyễn Văn Bồi và bà Phạm Thị Dánh còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước qui định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí:

Ông Nguyễn Văn Bồi và bà Phạm Thị Dánh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.500.000 đồng. Nộp tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Hồng Châu được nhận lại 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 000736 ngày 21/11/2005 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

5. Quyền kháng cáo

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

___________________

ThoLaw&Partners Thực hiện Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng cụ thể theo yêu cầu của khách hàng:

+ Tư vấn, soạn thảo Hợp đồng mua bán hàng hóa;

+ Tư vấn, soạn thảo  Hợp đồng mua bán nhà ở;

+ Tư vấn, soạn thảo Hợp đồng Ủy quyền;

+ Tư vấn, soạn thảo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư;

+ Tư vấn, soạn thảo hợp đồng tặng cho nhà ở;

+ Thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan khác.

Vui lòng liên lạc cho chúng tôi để nhận được những tư vấn tốt nhất:

ThoLaw&Partners
  • Khu 01/01 Đô Thị mới Mễ Trì Thượng, Từ Liêm, Hà Nội

  • Lê Đức Thọ
  • dien thoai Điện thoại: 0978.118.005
email Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
 

Hỗ trợ dịch vụ

Hỗ trợ tìm kiếm

Loading
Hỗ trợ tư vấn

Luật sư Giáp

Hotline: 0984.023.417

Luật sư Thọ

Hotline: 0978.118.005

Địa chỉ: Tòa nhà Văn phòng APT số 319 Tây Sơn, Phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, Tp.Hà Nội

Email: Ductholaw@gmail.com


Liên kết

 

 

Thống kê

ThoLaw hiện có 17 khách online